Ông Puih Hyinh (làng Ốp, phường Hoa Lư, TP. Pleiku) trầm mình giữa cánh đồng thả lưới bắt cá.

Mưu sinh “mùa nước nổi” nơi phố Núi

Nhắc đến “mùa nước nổi”, người ta thường nghĩ ngay đến một mùa rất đặc trưng ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Thế nhưng ngay giữa lòng Phố núi Pleiku cũng có một “mùa nước nổi” như thế, mang lại cho ngư dân sống quanh cánh đồng ngập nước một cuộc sống ấm no.

Làng ngư phủ đón mùa cá tôm

Khi những cơn mưa đầu mùa ào ào trút xuống, cánh đồng Ia Lung rộng gần 100 ha-nơi các hộ người dân tộc thiểu số các làng Ốp, Pleiku Roh vừa xong mùa gặt-lại ngập chìm trong biển nước. Cá tôm theo làn nước mát từ các con suối nhỏ hội tụ về vùng trũng này sinh sôi. Cánh đồng sau mùa khô hạn bỗng chốc lóng lánh cá tôm đủ loại, từ cá lóc, trê, diếc, rô, chạch cho đến lươn, tép, ốc… Mỗi năm, cứ vào khoảng tháng 5 Âm lịch, những người dân sống ven khu vực này lại cắm câu, thả lưới, dựng đăng, đặt lú…

Trời vừa dứt cơn mưa, ông Hoàng Văn Hạnh (tổ 1, phường Hoa Lư) nhanh tay vá lại những chỗ lưới bị rách trên các túi đục, chuẩn bị cho mẻ cá mới. Vừa thoăn thoắt luồn kim qua các lớp lưới bị rách một cách thuần thục, ông vừa giải thích: “Cá tôm bơi theo dòng nước khi gặp thành đăng chặn lại sẽ bị dẫn dụ chui vào đục lưới này, nếu không vá lại thì chúng sẽ theo các lỗ thủng chui hết ra ngoài”. Ít ai ngờ rằng 1 ngư phủ có tiếng với hơn 21 năm đánh bắt cá trên cánh đồng Ia Lung như ông Hạnh lại đến từ một tỉnh vùng núi phía Bắc. Năm 1998, ông từ Cao Bằng vào đây sinh sống. Ban đầu, ông chỉ đánh bắt cá những lúc nông nhàn, nhưng sau này đây lại là nghề chính nuôi sống gia đình ông. Để đánh bắt cá tôm trong “mùa nước nổi”, ông đầu tư gần 40 dàn đăng chặn, 20 lú (hay còn gọi là “lưới bát quái”, “12 cửa ngục”), mỗi ngày thu về khoảng 500 ngàn đồng. Những hôm trời nắng bỗng gặp cơn mưa lớn, nước mang theo nhiều cá tôm từ các con suối đổ về thì thu hoạch khá hơn, có khi lên đến tiền triệu. Hay tầm tháng 10 đến tháng 11, lúc nước trên cánh đồng dần rút cạn thì cá tôm dồn ứ lại nhiều, thu nhập vì vậy cũng tăng lên. “Làm nghề này tuy cực nhưng được cái tự do thoải mái, thành quả lao động thấy ngay mỗi sáng. Chỉ cần chịu khó thả lưới, buông câu thì thu nhập ổn định hơn so với việc đi làm thuê vất vả”-ông Hạnh vui vẻ nói.

Cũng là một ngư phủ có tiếng chịu khó, ông Phùng Văn Tiến (tổ 1, phường Hoa Lư) cho biết, ông vào nghề này khá muộn. Trước đây, ông là chủ thầu công trình nhà ở, tranh thủ mùa mưa bèn lần mò học cách đánh bắt cá rồi theo “đàn anh” có nghề ra đồng. Hơn 10 năm nay, công việc này đã níu chân ông và trở thành nghề cho thu nhập chính trong gia đình. Theo ông Tiến, thời điểm đầu mùa mưa, cánh đồng Ia Lung có nơi ngập sâu gần 2 m, lượng cá tôm về nhiều nhưng chủ yếu là cá nhỏ. Nói rồi ông giũ túi đục, tháo dây buộc để đổ cá tôm vào thùng. Những con cá diếc cỡ 2 ngón tay tươi rói vảy bạc lấp lánh, đuôi quẫy đành đạch như muốn nhảy ra. “Nếu nước lớn thì tôm, tép “ăn” đăng nhiều hơn, có khi túi đục của 1 đăng chặn thu được cả gần ký tép”-ông Tiến cởi mở chuyện trò.

Ngồi trên xuồng nghỉ ngơi để chờ dỡ tiếp những mẻ lưới khác, người đàn ông tuổi ngũ tuần cho hay, hơn 50 đăng chặn và 40 lú đánh bắt cá trong “mùa nước nổi” được ông đầu tư hơn 30 triệu đồng. Đổi lại, mỗi đêm, ông kiếm gần chục ký cá tôm các loại, thu nhập khoảng 500 ngàn đồng. Với mức thu này, chỉ cần vài tháng là ông lấy lại vốn, chưa kể ngư cụ có thể khai thác liên tục từ 2 đến 3 năm. Bắt đầu từ tháng 9 trở đi, mức thu nhập tăng dần lên khi con nước rút, tháng 10 đến 11 là đỉnh điểm, có đêm ông cất túi trên 2 triệu đồng. Với giá bán cá diếc vào khoảng 70.000 đồng/kg; cá lóc, cá trê từ 80 đến 100 ngàn đồng/kg, cao nhất là tép với 120 ngàn đồng/kg thì ai cũng có thể tính ra mức thu của ông trong “mùa nước nổi”.

Nhọc nhằn mưu sinh

Khi chọn mua những con tép tươi rói còn bật mình búng nhảy, những con cá lóc, cá trê quẫy đuôi đành đạch trong các thau cá ngoài chợ, ít ai biết rằng phía sau thành quả ấy là những công đoạn đầy cơ cực, vất vả của những người trót yêu nghiệp “rái cá”.

Ông Phạm Đức Khải (tổ 12, phường Hoa Lư, TP. Pleiku) đã bỏ nghề đánh bắt cá để chuyển sang nuôi vịt chạy đồng. Ảnh: M.N anh 002
Ông Phạm Đức Khải (tổ 12, phường Hoa Lư, TP. Pleiku) đã bỏ nghề đánh bắt cá để chuyển sang nuôi vịt chạy đồng

Mưa lất phất, nước lấp xấp đến ngực nhưng ông Puih Hyinh (làng Ốp, phường Hoa Lư) vẫn lội xuống thả lưới mặc mưa lạnh. Đáp lại, thành quả thu được sau đó không tệ. Gương mặt đen sạm của ông trở nên hớn hở khi tay lưới vừa dỡ lên khỏi mặt nước cá dính trắng cả lưới. Ông cho biết, mấy hôm nay, mưa nhiều nên ông chỉ thả 2 tay lưới, chủ yếu để kiếm cá ăn. Những lúc nắng, ông tranh thủ bủa đến 10 tay lưới, nếu gặp may thì chỉ trong buổi sáng cũng thu về khoảng 500 ngàn đồng, đủ để lo cái ăn cái mặc cho đàn con.

Trong khi đó, ông Tiến cho biết, trót theo nghiệp này nên từ 2 giờ sáng, ông đã phải lọ mọ dậy, mặc áo ấm, đeo đèn pha lên đầu, cầm theo cây sào tre rời nhà trên con xuồng chòng chành để đi dỡ lưới. Việc này sẽ đỡ nhọc nhằn hơn khi gặp thời tiết thuận lợi, còn nếu mưa lớn thì phải chịu cảnh nước thốc đến rát mặt. Nhiều lúc gió to, chiếc xuồng nhỏ chòng chành bởi sóng lớn khiến việc đổ các túi đục trở nên khó khăn. Những lúc như thế, ông Tiến phải nhảy xuống xuồng, ngâm mình dưới nước, một tay giữ xuồng, một tay cầm đuôi đục đổ cá tôm vào thùng. Nếu không làm vậy xuồng sẽ bị lật, kéo theo thành quả của cả một đêm lao động vất vả đổ ùm xuống nước. Trời hửng sáng, ông mới bơi xuống vào bờ. Chân chưa kịp ráo nước, vợ chồng ông lại ngồi hàng giờ cặm cụi loại bỏ rác, ốc, phân lựa từng loại cá, tép rồi mới gọi người đến thu mua. Có hôm, họ chở nhau ra chợ Hoa Lư để bán. Ông Tiến tâm sự: “Bỏ công ra chợ đứng bán thì tôm cá có giá hơn, thu nhập cao hơn nhưng không có thời gian chuẩn bị cho mẻ lưới tiếp theo trong ngày”.

Còn với ông Hạnh, điều ông e ngại nhất là cái lạnh căm căm của những tháng giáp Tết. Dù đã trang bị áo ấm kỹ càng nhưng do tay chân lúc nào cũng tiếp xúc với nước nên 2 hàm răng cứ va vào nhau cầm cập. May là trời phú cho những ngư phủ này sức khỏe hơn người nên nhiều khi ngâm mình dưới nước hàng giờ mà không mấy khi ốm đau, bệnh tật. Trong khi đó, ông Hyinh cho hay ông và nhóm người thả lưới thường chống chọi với cái lạnh bằng cách đốt lửa sưởi ấm, bắt mấy con cá nướng nhấm nháp với vài ly rượu ấm trong thời gian chờ đợi xuống nước cất mẻ lưới trước khi trời sáng.

Cùng mưu sinh trên cánh đồng này còn có ông Phạm Đức Khải (tổ 12, phường Hoa Lư). Từng làm nghề đánh bắt cá nhưng gần 10 năm trở lại đây ông chuyển qua nuôi vịt chạy đồng. Công việc này theo ông đỡ vất vả hơn, không phải lọ mọ đêm hôm, mưa gió. Tận dụng nguồn thức ăn sẵn có như tôm, cá, ốc, hàng ngày, ông thả đàn vịt đẻ hơn 600 con trên cánh đồng “mùa nước nổi”. Cứ tầm cuối tháng 4 Âm lịch, ông lại thả vịt tìm thức ăn, đến tháng 12 thì nuôi nhốt trong chuồng vì khi đó người dân bắt đầu xuống giống. Có thời điểm gia đình ông nuôi đến 1.000 con vịt siêu trứng; với giá bán 2.700 đồng/quả, mỗi tháng sau khi trừ chi phí ông thu về hơn chục triệu đồng.

Cực nhọc, nhưng ai ở đây cũng chờ đón “mùa nước nổi”, bởi nước về là có thêm sinh kế. Mặc dù những “mùa nước nổi” sau này, lượng tôm cá không còn nhiều như trước nhưng những người làm nghề chài lưới như ông Hạnh, ông Tiến, ông Hyinh và hơn 20 hộ khác vẫn có nguồn thu nhập ổn định. Từ con cá, con tôm nơi cánh đồng thung lũng Ia Lung này, con cái họ ngày một trưởng thành, được học hành đến nơi đến chốn. Đó chính là động lực lớn nhất giúp họ vượt qua những cơ cực với nghề.

Theo Baogialai.com.vn

Ấn tượng Kbang

Theo đuổi việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa cổ truyền Tây Nguyên tính đến nay đã xấp xỉ 40 năm, vậy mà tôi vẫn mê những lễ hội cấp huyện. Dẫu có thể còn nhiều sơ sót trong công tác tổ chức, nhưng ở đó người yêu Tây Nguyên sẽ bắt gặp được những gì nguyên sơ, nguyên bản của văn hóa bản địa và cả những tấm lòng chân thật rất đáng trân quý. Đấy là lý do tôi đến với Ngày hội Du lịch huyện Kbang lần thứ 2-2019 tổ chức mới đây. Để rồi có những ấn tượng thật khó quên.

Là một huyện cách trung tâm tỉnh tới hơn 100 km, lại ngoặt vào sâu phía chân núi, nhưng nhờ con đường Trường Sơn Đông mà bộ mặt phố thị Kbang cũng rất khang trang. Công viên trung tâm thị trấn mát mẻ nước hồ và non xanh cây cỏ, là nơi trưng bày hàng thủ công, hàng nông sản, kể cả ẩm thực với những gì được coi là đặc sản của huyện. Mỗi xã một gian với các sản phẩm nông nghiệp như: bơ, nhãn, xoài, gạo, đậu đỗ các loại, rồi cà phê, ca cao, mắc ca, mật ong… Những quầy hàng thủ công có vẻ cuốn hút hơn với những chiếc gùi mây đan cài công phu hay những ghè rượu, những tấm vải, chiếc túi và bộ trang phục Bahnar. Dãy gian hàng ẩm thực của bà con các làng thơm lừng mùi gà, heo nướng và cơm lam… gần như lúc nào cũng chật cứng khách.

 Các nghệ nhân trình diễn cồng chiêng tại Ngày hội Du lịch Kbang năm 2019. Ảnh: Đ.T
Các nghệ nhân trình diễn cồng chiêng tại Ngày hội Du lịch Kbang năm 2019.

Kbang mời gọi và đón du khách bằng 2 dàn chiêng độc đáo thuộc nhóm Bahnar Kon Kơ đeh và nhóm Bahnar Bnâm. Lấy màu chàm nhạt làm chủ đạo, các thiếu nữ tuổi đôi mươi xinh đẹp nhóm Bahnar Kon Kơ đeh trong bộ váy áo dày đặc hoa văn (thậm chí chiếm tới 1/3 bộ trang phục), điệu đàng với chiếc áo duyên dáng có tay đính hờ trên vai chứ chẳng mặc vào. Cứ là khoe đấy những cánh tay trần tròn lẳn, nâu mượt. Còn đội múa nữ thiếu nhi thuộc nhóm Bahnar Bnâm dường như nghiêm chỉnh hơn trong bộ váy áo dài kín đáo nhưng động tác múa lại vô cùng uyển chuyển. Họ cùng sánh vai với dàn chiêng của những chàng trai và thiếu niên khố dài, áo cộc cổ xẻ, khoe rốn, hỉ hả những nụ cười. Đấy nhé, mới là 2 nhóm địa phương của cùng một tộc người, cư trú cùng một huyện, mà trang phục lẫn bài chiêng đã khác nhau về giai điệu và nhịp điệu. Hỏi sao không làm mê hoặc những người yêu Tây Nguyên kia chứ. Tiếng chiêng có lúc chậm rãi (như phần trình bày của một bản giao hưởng thơ) dìu những cánh tay bay lên, lượn xuống, khi lại vô cùng sôi động, giần giật bước chân và nhịp tay của cao trào, lôi kéo gần như toàn bộ du khách đang lang thang quanh những gian hàng gần đó đổ về. Vài chục, không, phải là hàng trăm chiếc máy ảnh giơ lên nào quay, nào tanh tách chụp. Cả những bé em vòng ngoài nhún nhảy bước chân theo đội múa… Cứ thế, họ theo 2 đội chiêng đi vòng quanh công viên. Có đoàn phượt bằng xe máy của mấy chục vị từ Quy Nhơn lên, hăng hái ra phết.

Ít được tiếp xúc với văn hóa Bahnar nên tôi lại càng chăm chú theo dõi sự trình diễn của 2 đội trong đêm khai mạc để rồi nhận ra rằng, gìn giữ không gian văn hóa tới đâu chưa biết, nhưng với việc trao truyền di sản cho thế hệ trẻ, tỉnh Gia Lai đang làm khá tốt. Không chỉ ở các làng, mà còn cả ở các trường nội trú.

Bahnar và Jrai là 2 tộc người có truyền thống xoang tập thể. Do đó, song hành cùng việc luyện tập tấu chiêng của các chàng trai nhỏ tuổi là sự nhuần nhuyễn và điệu nghệ của các bé gái theo từng nhịp điệu. Vẫn còn sót lại rất ít ỏi những động tác múa thuở ban sơ mô phỏng sinh hoạt hàng ngày như hái quả, suốt lúa, vơ cỏ, khỏa nước… thêm vào đó là các động tác chắc chắn không có trong kho tàng cơ bản múa Bahnar mà 2 nghệ sĩ chuyên ngành múa Măng Linh Nga và Lý Sol sưu tầm. Nhưng bản chất của sự dâng hiến và mời gọi đầy nữ tính thì vẫn toát lên đầy đủ, mang lại cho người thưởng lãm cảm giác thật thú vị. Những cô bé ngực mới chũm cau, những chàng trai nhí với chiếc khố bé tẹo nhún nhảy theo nhịp chiêng hoặc các bé múa khil, vỗ trống dẫn đầu đội hình không chỉ toát lên vẻ tự tin mà còn cả niềm kiêu hãnh khó giấu trên gương mặt lẫn thân hình. Đó mới là điều đáng yêu, đáng quý nhất.

Đến làng Stơr của bác Núp, tôi cũng nhận thấy những đổi thay tích cực. Bên những cánh đồng lúa nước xanh miên man, các ngôi nhà xây bên cạnh nhà sàn vẫn là nhà cấp 4 đấy thôi nhưng đã khang trang hơn hẳn lần chúng tôi đến đây 5 năm về trước. Ngôi nhà sinh thời vợ bác Núp ở cùng cô con dâu Giang Kim Năm-vợ Hruk bạn tôi-cũng đã được xây lại, không còn nhếch nhác che bạt tránh mưa đôi chỗ như năm nào. Đặc biệt, Nhà lưu niệm Anh hùng Núp luôn được chăm nom sạch sẽ, trang nghiêm. Lễ ăn cốm mới (sơ mơk) được tổ chức tại đây. Dàn ching chiêng, đội múa nữ, nhất là 2 chú hề nhem nhuốc kia nếu thường xuyên được phục vụ du khách tới tham quan thì thật hay. Bởi hình thức đã thật là độc đáo với dàn cúng ngoài 2 chiếc lá cuốn thành ống đựng cốm, gà và rượu ghè các gia đình mang tới, còn có cả nến, tượng gỗ, hoa bông (không phải hoa thật nhé, mà là những cành tre được kết hoa dâng lên các thần linh… Nghĩa là rất thích mắt và lạ lẫm. Đấy, cứ nhìn anh bạn người Nhật Junichi bay từ TP. Hồ Chí Minh ra, ngày lăn lóc với lễ hội, đêm đến lại say mê nghe đàn hát dân ca Bahnar cũng đủ thấy văn hóa Tây Nguyên hấp dẫn đến mức nào. Chỉ tiếc rằng do thay đổi lịch mà không có sự thông báo nên ngoài Ban tổ chức và bà con trong làng, rất ít du khách được thưởng lãm.

Kbang là huyện có nhiều danh lam thắng cảnh như các thác Hang Dơi, Kon Lôk, Hang Én… hùng vĩ nơi những cánh rừng nguyên sinh; có Di tích Vườn mít-Cánh đồng Cô Hầu, Làng kháng chiến Stơr… Đặc biệt là truyền thống văn hóa đậm đặc Bahnar mà mới chỉ 3 ngày trải nghiệm chúng tôi đã mê tít. Với sự quyết tâm của lãnh đạo huyện cùng người dân thế này, chắc chắn nơi đây sẽ thành địa chỉ du lịch hấp dẫn. Bạn đã đến Kbang chưa? Nếu chưa thì hãy lên xe đi thôi.

Theo Baogialai.com.vn

XEM THÊM : Nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu